TRANG CHỦ      • Sơ đồ website    • Đăng nhập

Tìm  [ Help ]
  Liên kết website

Số lượt truy cập

03637175

 
Chuyên đề

TĂNG CƯỜNG KSNB TRONG CÁC ĐƠN VỊ THUỘC KHU VỰC CÔNG – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
TS. Vũ Hữu Đức - Đại học Kinh tế TP HCM. Luật Kiểm toán Nhà nước xác định hoạt động kiểm toán nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Đặt vấn đề

Luật Kiểm toán Nhà nước xác định hoạt động kiểm toán nhà nước là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước. Như vậy, hoạt động kiểm toán nhà nước là một hình thức hậu kiểm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước. Qua các cuộc kiểm toán, những sai phạm hoặc yếu kém sẽ được phát hiện góp phần ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của Nhà nước, trong đó chủ yếu là các đơn vị thuộc khu vực công.

Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống tiền kiểm cũng không kém phần quan trọng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Đó chính là hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công.

Bài viết này xem xét các mối quan hệ giữa hoạt động kiểm toán nhà nước với vấn đề nâng cao hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công để đề xuất một số hướng kết hợp hai hoạt động này nhằm phát huy cao nhất năng lực kiểm tra, giám sát của Nhà nước.

Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm toán nhà nước và hệ thống kiểm soát nội bộ

Hệ thống kiểm soát nội bộ

Khái niệm kiểm soát nội bộ ra đời từ đầu thế kỷ 20 trong thuật ngữ của các kiểm toán viên độc lập, mô tả các hoạt động tự kiểm soát tại doanh nghiệp. Kiểm toán viên sẽ tìm hiểu và đánh giá hệ thống này nhằm phục vụ cho việc điều chỉnh các thủ tục kiểm toán. Sự phát triển mạnh mẽ của các hình thức gian lận với thiệt hại lớn tại các công ty đã dẫn đến sự quan tâm của xã hội đến hoạt động kiểm soát nội bộ. Năm 1992, Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ (thường được gọi là COSO) của Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ (thường gọi là Ủy ban Treadway) đã công bố Báo cáo COSO 1992, đưa ra một khuôn mẫu về kiểm soát nội bộ. Báo cáo này thông qua việc cung cấp cái nhìn toàn diện về kiểm soát nội bộ, đã đặt nền tảng cho các lý thuyết về kiểm soát nội bộ hiện nay.

Các nghiên cứu về kiểm soát nội bộ sau đó được phát triển mạnh, chuyên sâu vào các loại tổ chức hoặc các loại hình hoạt động khác nhau. Trong khu vực công, kiểm soát nội bộ cũng rất được quan tâm. Hướng dẫn về Kiểm soát nội bộ của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã được ban hành năm 1992 và cập nhật năm 2001, đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công. Tại Hoa Kỳ, Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang được Cơ quan Kiểm toán Nhà nước (GAO) ban hành năm 1999. Nhìn chung, các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong khu vực công hiện nay đặt trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 với những điểm chính sau:

  1. Xác định kiểm soát nội bộ là một bộ phận/quy trình không thể thiếu trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu về:
    • Hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động, bao gồm cả việc bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, hư hỏng hoặc sử dụng sai mục đích.
    • Báo cáo tài chính đáng tin cậy
    • Tuân thủ luật pháp và các quy định
  2. Xác định các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong năm yếu tố:
    • Môi trường kiểm soát, bao gồm việc tạo lập một cơ cấu và kỷ cương trong toàn bộ hoạt động của đơn vị.
    • Đánh giá rủi ro, liên quan đến việc nhận biết, phân tích và lựa chọn những giải pháp đối phó với các sự kiện bất lợi cho đơn vị trong việc thực hiện các mục tiêu.
    • Các hoạt động kiểm soát bao gồm các phương thức cần thiết để kiểm soát như xét duyệt, phân quyền, kiểm tra, phân tích rà soát…trong từng hoạt động cụ thể của đơn vị
    • Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một hệ thống thông tin và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cả các mục tiêu kiểm soát nội bộ. Trong điều kiện tin học hóa, hệ thống thông tin còn bao gồm cả việc nhận thức, phát triển và duy trì hệ thống phù hợp với đơn vị.
    • Giám sát bao gồm các hoạt động kiểm tra và đánh giá thường xuyên và định kỳ nhằm không ngừng cải thiện kiểm soát nội bộ, kể cả việc hình thành và duy trì công tác kiểm toán nội bộ.

So sánh với Báo cáo COSO 1992, các chuẩn mực kiểm soát nội bộ trong khu vực công tập trung hơn vào các chức năng và đặc điểm của đơn vị nhà nước và các quy định có tính quy chuẩn hơn là chỉ hướng dẫn.

Trong khu vực công tại Việt Nam hiện nay, khái niệm kiểm soát nội bộ còn rất mới mẻ. Các nhà quản lý trong khu vực công thường dựa trên các quy định của pháp luật, kinh nghiệm cá nhân để hành xử hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác kiểm soát. Ngoài ra, việc thiếu một kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát sẽ dẫn đến tổn hao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết trong khi lại bỏ sót những rủi ro quan trọng.

Kiểm soát nội bộ và  hoạt động kiểm toán nhà nước

So sánh mục tiêu của kiểm soát nội bộ nêu trên với định nghĩa về hoạt động kiểm toán nhà nước (điều 4, Luật Kiểm toán Nhà nước), có thể thấy rõ mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công với hoạt động kiểm toán nhà nước:

Kiểm soát nội bộ

Kiểm toán nhà nước

Hiệu lực, hiệu quả các hoạt động

[Kiểm tra và đánh giá về] tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.

Báo cáo tài chính đáng tin cậy

Kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính,…

Tuân thủ pháp luật và các quy định

[Kiểm tra, đánh giá] việc tuân thủ pháp luật

Từ mối quan hệ này có thể rút ra những nhận xét sau:

  • Kiểm soát nội bộ là nội dung mà kiểm toán nhà nước phải kiểm tra và đánh giá trong khi thực hiện công việc của mình. Trong mỗi loại hình của kiểm toán nhà nước (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động), một khía cạnh của kiểm soát nội bộ được tập trung xem xét, đánh giá.
  • Nâng cao hoặc cải thiện kiểm soát nội bộ là một tác dụng quan trọng của hoạt động kiểm toán bởi vì các kết luận, kiến nghị của kiểm toán nhà nước ngoài việc xác nhận sự trung thực của báo cáo tài chính, làm cơ sở xử lý các sai phạm còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khắc phục các yếu kém hiện có. Trong chừng mực nhất định, có thể coi việc cải thiện kiểm soát nội bộ tại các đơn vị thuộc khu vực công là một mục đích hướng đến của kiểm toán nhà nước, khi những đánh giá của  kiểm toán nhà nước sẽ giúp đơn vị nhìn lại hoạt động của mình và điều chỉnh cho tốt hơn.
  • Dưới một góc độ nhất định, kiểm soát nội bộ tại các đơn vị thuộc khu vực công có thể xem là “cánh tay nối dài” của kiểm toán nhà nước. Hệ thống tự kiểm soát của đơn vị bao gồm cả kiểm toán nội bộ, nếu được tổ chức tốt, sẽ ngăn chặn và phát hiện một phần lớn các sai phạm và yếu kém trước khi kiểm toán nhà nước đến để kiểm tra.

Vai trò của chuẩn mực kiểm soát nội bộ

Từ các nhận xét trên, có thể thấy vai trò quan trọng của chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong công việc kiểm toán nhà nước:

  • Đây là một hệ thống tiêu chuẩn cho phép người kiểm toán viên nhà nước đánh giá các phương diện trong hoạt động của đối tượng kiểm toán. Thiếu các tiêu chuẩn này, việc đánh giá của kiểm toán nhà nước chỉ tập trung vào kết quả hơn là giải quyết được nguyên nhân. Thí dụ, một hành vi vi phạm pháp luật là một kết quả trong khi nguyên nhân của nó là có thể nằm trong các vấn đề sau: thiếu sự quan tâm của người lãnh đạo đơn vị (môi trường kiểm soát), hoặc không nhận thực được hậu quả (không đánh giá rủi ro), hoặc thiếu các biện pháp kiểm soát (các hoạt động kiểm soát), hoặc thiếu thông tin phản hồi (thông tin và truyền thông) hoặc chưa quan tâm đúng mức công tác kiểm tra nội bộ (giám sát). Do đó, các kiến nghị xử lý vi phạm nếu không phân tích dưới góc độ kiểm soát nội bộ sẽ không khắc phục được nguyên nhân và các sai phạm sẽ có tiếp tục xảy ra trong tương lai. Tương tự như vậy đối với các sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các yếu kém trong hoạt động.
  • Chuẩn mực kiểm soát nội bộ là cơ sở để người lãnh đạo các đơn vị thuộc khu vực công hình dung toàn bộ trách nhiệm kiểm soát của mình và cách thức để đạt được mục tiêu kiểm soát trong đơn vị. Khi người lãnh đạo đơn vị nắm được các yêu cầu và phương pháp kiểm soát, hệ thống kiểm soát nội bộ tại các đơn vị thuộc khu vực công sẽ được tăng cường, điều này có tác dụng giảm nhẹ công việc của kiểm toán nhà nước.
  • Chuẩn mực kiểm soát nội bộ cũng là cơ sở phối hợp công việc giữa các kiểm toán viên nhà nước, kiểm toán viên nội bộ tại đơn vị và kể cả các kiểm toán viên độc lập khi tham gia kiểm toán khu vực công.

Chính vì tầm quan trọng của các chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong khu vực công đối với hoạt động kiểm toán nhà nước, cơ quan kiểm toán nhà nước thường là người được giao nhiệm vụ ban hành các chuẩn mực này. INTOSAI có một ủy ban chuyên về chuẩn mực kiểm soát nội bộ (Internal Control Standards Committee).

Một số đề xuất về việc tăng cường kiểm soát nội bộ trong các đơn vị thuộc khu vực công, nhìn dưới góc độ của kiểm toán nhà nước

Xây dựng Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ trong khu vực công

Luật kiểm toán nhà nước 2005 quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước đối với tính chính xác, trung thực của báo cáo tài chính, bao gồm cả việc căn cứ vào các quy định của pháp luật, xây dựng và duy trì hoạt động hệ thống kiểm soát nội bộ thích hợp và có hiệu quả (Điều 6, Luật Kiểm toán nhà nước).

Trên cơ sở đó, trước mắt Kiểm toán nhà nước có thể chủ động xây dựng và ban hành Hướng dẫn về kiểm soát nội bộ khu vực công làm cơ sở cho việc tăng cường kiểm soát nội bộ trong các đơn vị nhà nước. Hướng dẫn này được xây dựng trên cơ sở tham khảo Hướng dẫn chuẩn mực kiểm soát nội bộ  của INTOSAI và của một số quốc gia.

Đào tạo kiến thức và kỹ năng về thiết lập kiểm soát nội bộ

Kiểm soát nội bộ giúp người quản lý có cái nhìn toàn diện về vấn đề kiểm soát trong doanh nghiệp theo hướng xác định mục tiêu, đánh giá rủi ro và thiết lập các hoạt động kiểm soát; đồng thời tạo lập một môi trường kiểm soát tốt đi đôi với một hệ thống thông tin hữu hiệu. Do đó, khái niệm và các chuẩn mực kiểm soát nội bộ cần được đưa vào chương trình đào tạo cán bộ quản lý các đơn vị khu vực công.

Phát triển thủ tục đánh giá kiểm soát nội bộ trong quy trình kiểm toán nhà nước

Đánh giá kiểm soát nội bộ liên quan đến cả ba loại hình kiểm toán do Kiểm toán nhà nước thực hiện:

  • Trong kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ , việc đánh giá kiểm soát nội bộ là cơ sở cho kiểm toán xác định các khu vực có rủi ro cao để thiết kế thủ tục kiểm toán phù hợp.
  • Trong kiểm toán hoạt động, việc đánh giá kiểm soát nội bộ một trong những nội dung quan trọng cần thực hiện (Điều 39, Luật Kiểm toán Nhà nước).
  • Trong cả ba hoạt động, đánh giá kiểm soát nội bộ là cơ sở cho việc hình thành các kiến nghị của kiểm toán viên, bảo đảm vạch được nguyên nhân của các sai phạm, yếu kém và đưa ra các đề xuất phù hợp, hữu ích.

Vì vậy, trong quy trình kiểm toán được ban hành trong Chuẩn mực kiểm toán nhà nước, các yêu cầu và thủ tục đánh giá kiểm soát nội bộ cần được quy định và hướng dẫn.

KẾT LUẬN

Tăng cường kiểm soát nội bộ trong khu vực công là một khuyến nghị của Ngân hàng thế giới với Chính phủ Việt Nam trong Báo cáo “Việt Nam, đánh giá trách nhiệm tài chính quốc gia” năm 2001. Trong tiến trình này, kiểm toán nhà nước có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự ra đời của chuẩn mực về kiểm soát nội bộ và tham gia quá trình đưa chuẩn mực này vào thực tiễn để từng bước cải thiện kiểm soát nội bộ trong khu vực công, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Nhà nước.

Tài liệu tham khảo

Luật Kiểm toán Nhà nước (2005)

Ngân hàng thế giới (2001), Việt Nam – Đánh giá trách nhiệm tài chính quốc gia.

Committee of Sponsoring Organizations (1992), Internal Control: Integrated Framework.

International Organization of Supreme Audit Institutions (2001), Guidelines for Internal Control Standards for the Public Sector.

US General Accounting Office (1999), Standards for Internal Control in the Federal Government.

   Bản in

Các tin khác
VAI TRÒ CỦA HỘI KẾ TOÁN TP.HCM TRONG BỒI DƯỠNG, ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ KẾ TOÁN DNVVN (22/01/2007)
SỔ TAY KIỂM KÊ TỒN KHO (02/01/2007)
DIỄN ĐÀN ĐẦU TƯ VÀ HỖ TRỢ DNVVN KHU VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG DO ACCA TỔ CHỨC TẠI TP HCM (26/12/2006)
QĐ 15/2006/QĐ-BTC CỦA BTC – BAN HÀNH CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN DN MỚI - CỘT MỐC QUAN TRỌNG CHO NGHỀ KẾ TOÁN VN (29/11/2006)

  Đối tác


  Quảng cáo










Đăng ký bản tin

Để nhận bản tin của chúng tôi, bạn hãy nhập địa chỉ email của bạn vào ô phía dưới

Bản quyền của Hội Kế Toán Thành phố Hồ Chí Minh